Vitamin B thúc đẩy quá trình tiêu hóa, giúp trẻ ăn ngon miệng

Vitamin nhóm B giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ quá trình tiêu hóa. Đối với trẻ nhỏ, việc bổ sung đầy đủ Vitamin nhóm B sẽ đảm bảo sự phát triển đều đặn và cân đối trong những năm tháng đầu đời.

Vitamin nhóm B bao gồm các loại B1, B2, B3, B5, B6, B7, B8, B9, B12. Có thể nói, Vitamin nhóm B đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của trẻ, cả về thể chất lẫn trí tuệ. Tuy nhiên, Vitamin nhóm B không tồn tại nhiều trong thực phẩm tự nhiên và dễ bị phân hủy trong nước. Do đó, không dễ dàng bổ sung vitamin nhóm B cho trẻ, nhất là với trẻ bi­­ếng ăn hoặc gặp rắc rối với đường tiêu hóa.

Vitamin B1 hay còn gọi là thiamin

Vitamin B1 cần thiết cho việc tạo ra một loại men (enzym) quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa đường và quá trình phát triển của cơ thể . Ngoài ra Vitamin B1 kích thích sự tạo thành một loại men tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn, kích thích cảm giác thèm ăn. Khi thiếu Vitamin B1 trẻ thường biếng ăn, mệt mỏi, nhất là trẻ lười ăn chất bột đường như bột, cháo, cơm… thì việc bổ sung Vitamin B là cần thiết.


Vỏ các loại ngũ cốc chứa nhiều Vitamin B1

Vitamin B2 có tên gọi quốc tế là Riboflavin

Trong cơ thể, Vitamin B2 có nhiều vai trò quan trọng: là thành phần quan trọng của các menoxydase; trực tiếp tham gia vào các phản ứng oxy hóa hoàn nguyên; khống chế các phản ứng hô hấp chuyển hóa của tế bào; chuyển hóa các chất đường, đạm, chất béo ra năng lượng để cung cấp cho các tế bào hoạt động; tác động đến việc hấp thu, tồn trữ, sử dụng sắt trong cơ thể (rất quan trọng trong việc phòng chống thiếu máu do thiếu sắt). Vitamin B2 tham gia và sự chuyển hóa thức ăn thành năng lượng bằng cách chuyển hóa chất bột, chất béo và chất đạm thông qua các loại men, giúp cơ thể tự cân bằng dinh dưỡng. Nó cũng có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt, nhất là khả năng cảm thụ màu. Vitamin B2 kết hợp với Vitamin A làm cho dây thần kinh thị giác hoạt động tốt, đảm bảo thị giác của trẻ phát triển bình thường, trong những trường hợp bị tiêu chảy kéo dài , tổn thương niêm mạc ruột vitamin B2 còn có tác dụng phục hồi làm lành tổn thương niêm mạc ruột.

Vitamin B3 hay còn gọi là Vitamin PP

Do cơ thể không thể tích trữ loại vitamin này nên dễ dẫn đến tình trạng thiếu vitamin PP, gây chán ăn, suy nhược cơ thể, dễ bị kích động, viêm lưỡi miệng, chân tay, thậm chí tiêu chảy và rối loạn tâm thần.


Ăn nhiều lạc để bổ sung Vitamin B3

Vitamin B5 hay còn gọi là acid pantothenic

Tầm quan trọng của Vitamin B5 đã được xác định: là một trong ba yếu tố thiết lập nên coenzym A, cần thiết cho tất cả các hoạt động chuyển hóa năng lượng của tế bào. Nó tham gia và chuyển hóa lipid, glucid và protid trong quá trình tổng hợp hormon steroid có dẫn xuất từ cholesterol; tham gia vào quá trình lên men tiêu hóa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải phóng năng lượng từ chất béo, chất bột, đạm và rượu.
Vitamin B5 tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và độ bền của da cũng như niêm mạc. Ngoài ra, nó cũng đóng vai trò trong quá trình phát triển chức năng của hệ thần kinh trung ương.

Vitamin B6

Tham gia vào men tiêu hóa dưới dạng coenzym, đóng vai trò thiết yếu trong chuyến hóa chất đạm, chất bột đường và chất béo, đảm bảo hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra, nó còn tham gia tổng hợp hemoglobin, khi thiếu Vitamin B6 cũng dẫn đến thiếu máu.


Vitamin B6 có nhiều trong chuối

Vitamin B9 hay còn gọi là axit folic

Tham gia quá trình tạo ra tế bào mới và duy trì sự tồn tại của chúng. Nó đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phân chia và lớn nhanh của tế bào như ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai. Chất này cần thiết trong việc nhân đôi ADN và giúp tránh đột biến ADN (vốn là một yếu tố gây ưng thư)

Thường ít khi trẻ thiếu một loại Vitamin nhóm B đơn độc mà thường là thiếu nhiều loại cùng một lúc, thường hay gặp ở trẻ biếng ăn, chậm lớn, hay rối loạn tiêu hóa kéo dài. Vì vậy, khi trẻ có biểu hiện biếng ăn, chậm lớn, ngoài việc tìm ra các nguyên nhân để điều trị, các bà mẹ có thể bổ sung các Vitamin nhóm B, kẽm và lysine… để giúp trẻ ngon miệng, phòng chống suy dinh dưỡng.


Viênuống JUNIOR Memorax của tập đoàn 21st Century Healthcare, Mỹ không chỉ chứa đầy đủ các loại Vitamin nhóm B mà còn bổ sung thêm Vitamin A, C, E và một số vi khoáng chất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ như: Biotin, Chromium, Inositol, Choline Bitartrate, L – Cysteine, L – Glutamine, L – Methionine, L – Tyrosine, RNA, Lecithin.

Thành phần với 20 loại Vitamin và vi khoáng chất, viên uống JUNIOR Memorax giúp trẻ hết biếng ăn, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, phòng ngừa bệnh tật đồng thời tăng sự tỉnh táo, hiệu quả hoạt động về trí óc, khả năng tập trung, tăng trí nhớ, giúp trẻ đạt kết quả tốt trong học tập.

Chuyên gia tư vấn sức khỏe cho con bạn: 043. 5162 999

Đọc tiếp…

Bổ sung khoáng chất và Vitamin đúng cách cho trẻ

Vi khoáng chất và Vitamin là những chất rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Những chất này có rất nhiều trong thức ăn có nguồn gốc từ động vật, thực vật rất đa dạng ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ chưa hiểu rõ về vai trò và nhu cầu các dinh dưỡng này của cơ thể nên đã bổ sung không đúng cho trẻ. Thiếu hoặc thừa đều ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Vậy bổ sung thế nào là đúng cách?

Liều bổ sung bao giờ cũng phải thấp hơn nhu cầu hàng ngày, trừ trường hợp trẻ đang bị mắc bệnh do thiếu các vitamin và khoáng chất đó thì có thể phải dùng liều cao hơn, trường hợp này phải uống theo sự chỉ dẫn của bác sỹ nhi khoa. Vì vậy các bậc phụ huynh cần phải biết nhu cầu hàng ngày các vitamin và khoáng chất này là bao nhiêu.

Các chế phẩm Vitamin và vi chất dinh dưỡng đơn lẻ thường có hàm lượng rất cao, như Vitamin B12 loại 5.000-10.000mcg (cao gấp 800-1.600% nhu cầu hằng ngày), Vitamin C 1.000mg, nguyên tố kẽm 100mg (cao gấp 330-660% nhu cầu hằng ngày)... khi sử dụng cần tham khảo và tuân thủ tuyệt đối chỉ định của thầy thuốc.

Các bậc phụ huynh khi sử dụng Vitamin và khoáng chất dưới dạng phối hợp (đa Vitamin, đa khoáng chất...) phải phân biệt rõ ràng công thức cho trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 4 tuổi. 

Hoa quả là nguồn cung cấp Vitamin thiết yếu cho cơ thể

Vitamin là những yếu tố luôn có sẵn trong thực phẩm (rau, quả, ngũ cốc, thịt, cá...), nên nếu sử dụng thực phẩm đảm bảo chất lượng, không ăn kiêng, không rối loạn hấp thụ ở đường tiêu hóa thì không thiếu, không cần bổ sung.

Tuy nhiên, việc quảng cáo quá mức về thuốc bổ, Vitamin và khoáng chất đang làm tình trạng lạm dụng thuốc lan tràn, phổ biến hơn, gây những tai biến khó lường do... thừa Vitamin và khoáng chất.

Khi bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ bằng thuốc cần chú ý những điều gì?

Cho trẻ dùng thuốc đúng chỉ định của bác sĩ để tránh các biến chứng xấu do dùng quá liều. Điều này là vô cùng quan trọng. Thiếu vitamin và khoáng chất đã không tốt cho sức khỏe, nhưng nếu thừa thì nguy hiểm không kém.  Trong trường hợp trẻ phải dùng thuốc dài ngày, dùng liều cao hoặc dùng các chế phẩm có quá nhiều thành phần vitamin và chất khoáng trong một viên thuốc, cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa nhi. 

Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu.

Cho trẻ đi khám định kỳ là thói quen tốt của cha mẹ

Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm.


Đọc tiếp…

Những bài tập tăng cường trí nhớ cho trẻ

Con bạn đang ở tuổi ăn tuổi chơi, rất hiếu động, dễ mất khả năng tập trung cũng như trí nhớ vào các bài học ở trường. Bạn đang rất lo lắng về vấn đề này? Bài viết xin giới thiệu 4 bài tập giúp rèn luyện trí nhớ cho con bạn một cách hiệu quả nhất

“Trí nhớ” là những sự vật, sự việc mà một người đã trải qua và được lưu lại vào trung tâm não, và kí ức này sẽ xuất hiện lại trong một điều kiện nhất định. Nói một cách khác, trí nhớ là sự phản ứng của não đối với những sự vật, sự việc đã xảy ra.

1. Rèn luyện kĩ năng “ghi”

Ghi nhớ là quá trình một sự vật, sự việc được lưu vào trung tâm não. Phản xạ ghi nhớ này của trẻ chưa được hình thành, nên muốn rèn luyện phản xạ này, bạn cần bắt đầu từ những bài học đơn giản trên lớp của bé, hướng dẫn bé đọc đi đọc lại bài học hay viết lại từ hay chữ cái nhiều lần…, và quan trọng là bạn cần rèn luyện cho bé một cách thật nghiêm túc.


2. Rèn luyện kĩ năng nhớ

Tức là nhớ những kiến thức trong quá trình học, đây là khâu then chốt của quá trình rèn luyện trí nhớ. Bạn cần dạy cho trẻ cách nhớ một cách chắc chắn những kiến thức đã được học, cách tốt nhất là ôn đi ôn lại nhiều lần. Ngoài ra, những bài tập mà thầy cô giáo cho về nhà cũng là cách rèn luyện trí nhớ của trẻ, để trẻ nhớ được những kiến thức quan trọng, vì thế bạn cần kiên trì hướng dẫn thêm cho bé và khích lệ, đốc thúc bé hoàn thành bài tập

3. Rèn luyện kĩ năng nhận thức

Là khi gặp những vấn đề đã học, bé có thể nhớ ngay ra những kiến thức đó và đưa vào sử dụng. Ví dụ khi mới đi học, cô dạy bé 1 + 1 = 2, thì sau này khi đưa ra 1 + 1, bé sẽ có ngay đáp án là 2. Ghi nhớ và nhận thức có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, vì thế bạn cần rèn luyện kĩ năng này cho bé một cách nghiêm khắc, yêu cầu bé luôn ôn tập lại những kiến thức đã biết, đây là một trong những cách quan trọng nhất để rèn luyện trí nhớ cho bé.

4. Rèn luyện kĩ năng nhớ lại

Tức là khả năng “tìm lại được kiến thức” đã lưu giữ trong não. Con bạn có thể đạt được những thành tích tốt trong những kì thi học kì, hay thi lên lớp... đều do khả năng nhớ lại tương đối tốt những kiến thức đã học và đã ghi nhớ. Cách tốt nhất để rèn luyện kĩ năng này là “lục lại” kiến thức nhiều lần, để bé có thể nhớ được nhiều và nhớ một cách toàn diện


Đọc tiếp…

5 tác hại của việc ăn kiêng quá mức



Chế độ ăn kiêng quá mức có thể cho bạn kết quả nhanh chóng trước mắt là giảm cân nhưng nó lại thực sự có hại cho sức khỏe. Đặc trưng của chế độ ăn kiêng quá mức (ví dụ như chỉ ăn trái cây, rau củ, uống nước, loại bỏ hoàn toàn chất béo, thực phẩm giàu protein, bơ sữa...) là thiếu hụt các chất dinh dưỡng cơ thể bạn cần. Vậy nên, chế độ ăn uống này thường có tác động tiêu cực hơn là tích cực.

Dưới đây 5 tác hại do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất gây ra. Ăn kiêng khắc nghiệt không phải là cách hay để giảm cân. 




Ăn kiêng quá mức là cách giảm cân không khoa học 



1. Cellulite


Cellulite là một sự xuất hiện các vết lõm trên da, nhìn như những núm đồng tiền. Hiện tượng cellulite (hay còn gọi là da sần vỏ cam) có thể gặp ở vùng bụng, đùi, mông và hông.

Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể là do sự tăng hoặc giảm cân đột ngột và quá nhiều. Cellulite hình thành do tích tụ độc tố và đứt gãy mô liên kết ở lớp thượng bì, gây ra hiện tượng phù nề và xơ cứng xung quanh tế bào mỡ. Khi tăng hoặc giảm cân đột ngột, các collagen và elastin ở các cơ bị tác động, phá hủy.
Từ đó làm cản trở quá trình tuần hoàn trao đổi chất và gây nên hiện tượng tích nước, rối loạn các búi cơ và dẫn đến các vết lồi lõm trên da.

2. Có thể làm cho cơ thể tích mỡ


Trong khi thực hiện một chế độ ăn uống khắc nghiệt, trọng lượng của bạn có thể sẽ giảm đáng kể trong một thời gian ngắn. Nhưng kết quả là, cơ thể sẽ cố gắng để tích lũy năng lượng do thiếu vitamin và khoáng chất. Và cuối cùng, để có thể tích lũy năng lượng, cơ thể sẽ kích hoạt các hormone gây thèm ăn.

Điều này có thể vô tình khiến bạn ăn nhiều một cách mất kiểm soát. Và kết quả là lượng mỡ trong cơ thể có thể tăng lên nhanh chóng.

Tránh sự tích tụ mỡ trong cơ thể sau mỗi bữa ăn tối bạn sử dụng 1 túi trà thảo dược Figura giúp đào thải nhanh lượng mỡ thừa và calo đang chứa trong cơ thể chưa được giải phóng.



3. Suy dinh dưỡng


Hậu quả rõ ràng nhất của việc ăn kiêng kham khổ, giảm cân triệt để nhưng không khoa học là dẫn đến suy dinh dưỡng. Bạn đừng nghĩ suy dinh dưỡng chỉ gặp ở đối tượng là trẻ nhỏ. Thực tế, ngay cả với những người đã trưởng thành nếu không được bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể cũng sẽ dẫn tới thiếu hụt dinh dưỡng và gây ra suy dinh dưỡng.

Suy dinh dưỡng là thuật ngữ để chỉ những người không đủ cân nặng hay không đủ sức khoẻ, không đủ cân tiêu chuẩn so với chiều cao. Nguyên nhân cơ bản của suy dinh dưỡng là sự thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết ban đầu cho cơ thể trong các thức ăn.

Một chế độ ăn uống không cân bằng sẽ làm cho cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng, thậm chí còn có thể dẫn đến mệt mỏi, dễ ngất xỉu hoặc tử vong. Một chế độ ăn uống không cân bằng sẽ làm cho cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng.

Kết hợp trong quá trình ăn kiêng bạn có thể dùng kết hợp với sữa PRIMAVITA để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể.




Sữa PRIMAVITA nhập nguyên hộp từ Hà Lan 


4. Liên tục bị đói


Nếu bạn đã không ăn trong một thời gian dài hoặc ăn quá ít, lượng calo cung cấp không đủ cho các hoạt động của cơ thể thì bạn sẽ bị đói. Sở dĩ bạn đói là vì các cơ quan trong cơ thể cần năng lượng cho hoạt động, vì vậy, chúng phát tín hiệu đến dạ dày và não để biết rằng bạn đang đói.

Tình trạng đói diễn ra liên tục cũng không tốt, vì não nó sẽ thúc ép não và phát tín hiệu thèm ăn đồ ngọt, mặn, thực phẩm chiên rán... Khi không thể cưỡng lại được sự thúc ép này, bạn sẽ ăn các thực phẩm đó nhiều hơn bình thường. Và đây chính là nguyên nhân gây ra tăng cân.

Tránh cảm giác đói trong quá trình giảm cân bạn nên sử dụng trà giảm cân Mega-T nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ với chiết xuất 100% thảo dược giúp bạn giảm cảm giác đói, tăng sự chuyển hóa mỡ,… Đưa lại cho bạn vóc dáng như mong muốn, một phương pháp giảm cân an toàn – hiệu quả.


5. Rụng tóc


Nếu áp dụng một chế độ ăn nghèo nàn dinh dưỡng, chỉ ăn các thực phẩm "an toàn" cho cân nặng của bạn như rau xanh, trái cây, nước lọc... thì chắc chắn khả năng thiếu dưỡng chất là khó tránh khỏi. Nếu cơ thể bị thiếu protein và chất dinh dưỡng thiết yếu khác có thể là nguyên nhân gây ra rụng tóc. Cơ thể bạn cần thực phẩm lành mạnh cho sự tái sinh của các tế bào, trong đó có cả sự tái sinh của da và tóc.

Vì vậy, để tránh hậu quả rụng tóc do việc ăn uống gây ra, bạn đừng nên ăn kiêng một cách thái quá. Thay vào đó, hãy bổ sung đủ dinh dưỡng cho cơ thể với một lượng có giới hạn để đảm bảo lượng calo hấp thụ vào cơ thể không vượt quá lượng calo được tiêu thụ. Từ đó mới tránh được nguy cơ tăng cân và tích tụ mỡ thừa.

Sử dụng sữa PRIMAVITA bạn được cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể, đặc biệt là bổ sung lượng sắt cao, tránh thiếu máu, rụng tóc.

Tư vấn miễn phí về giảm cân an toàn - hiệu quả và sản phẩm: (043).995.9090

Đọc tiếp…

6 thói quen ăn uống "phá hoại" nhan sắc


Vóc dáng phì nhiêu, làn da đầy mịn làm bạn mất đi sự tin tin vào nhan sắc bản thân. Bạn có biết điều này là do nguyên nhân nào gây nên? Ăn uống ảnh hưởng rất nhiều và có thể gây nên hai tình trạng trên.

Chúng tôi sẽ liệt kê 6 sai lầm thường mắc phải trong chế độ ăn uống hàng ngày. Qua đó, bạn sẽ rút kinh nghiệm cho bản thân và nhận thức được rằng nên cắt giảm những chất gì trong thực đơn để có một vóc dáng lý tưởng và làn da đẹp.

1. Đường




Ai cũng biết rằng, đồ ngọt là những nguyên nhân khiến cơ thể tăng cân. Tuy nhiên, nó dường như trở thành thói quen ăn uống của số đông. Đã đến lúc bạn nên nhận thức chính xác số lượng đường mình thu nạp vào cơ thể hàng ngày. Đồng thời, dần dần loại bỏ đường trong thực đơn. Ví dụ như thay vì chọn sữa chua có đường, bạn nên dùng sữa chưa không đường, vừa tốt cho sức khỏe lại không bị béo.

2. Hải sản


6 thói quen ăn uống "phá hoại" nhan sắc, Làm đẹp, giam can, giảm cân, da min, da dep, sang min, giam beo bung, lam dep, làm đẹp

Hải sản là một loại thực phẩm bổ sung rất tốt protein và omega 3, nhưng bên cạnh đó bạn cần biết một số điều khác quan trọng không kém. Hải sản chứa một lượng i-ốt không hề nhỏ, nó sẽ khiến da bạn nổi mụn.

3. Muối




Muối là thứ gia vị được dùng hàng ngày, nhưng nếu cơ thể trở nên dư thừa muối, bạn sẽ gặp một vài vấn đề nhỏ. Nhiều muối sẽ dẫn đến chứng đầy hơi và giữ nước, như vậy làm khuôn mặt và đôi mắt của bạn bị sưng húp. Chắc chắn, chẳng ai có thể xinh đẹp nếu bị rơi vào tình trạng này.

4. Tinh bột


Bạn có biết tinh bột là một trong những nguyên nhân khiến cơ thể bị tăng cân? Không chỉ thế, nạp quá nhiều tinh bột vào cơ thể vô tình làm tăng nội tiết tố Androgen gây tóc mỏng hoặc mụn trứng cá.

 

 5. Chất béo


Ăn quá nhiều hoặc quá ít chất béo đều không tốt cho sức khỏe. Nhiều người muốn giảm cân đã loại bổ việc bổ sung chất béo, điều này khiến các tế bào hoạt động không bình thường. Nên thu nạp chất béo bằng những thực phẩm lành mạnh như cá, các loại hạt...


6. Ăn quá nhiều một món


Một sai lầm nữa trong chế độ ăn uống mà không phải ai cũng biết, đó là ăn đi ăn lại một món. Điều này khiến cơ thể quá tải trong việc hấp thụ một chất. Ngay cả các loại hạt, bơ, dầu oliu rất tốt cho sức khỏe cũng không nên ăn quá nhiều bởi nó cũng có thể khiến bạn tăng cân. Nên nhớ, ăn tất cả mọi thứ ở mức độ vừa đủ.

------------------

MÁCH BẠN:

 Mega – T giải pháp giảm cân khoa học - an toàn – hiệu quả

Mega – T là thực phẩm chức năng giảm cân nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ. Với thành phần 100% thảo dược hoàn toàn không gây tác dụng phụ cho cơ thể.
Với cơ chế giảm cân tư nhiên làm giảm cảm giác đói và tăng cường chuyển hóa các chất béo dư thừa, Mega – T giúp bạn giảm cân khoa học – an toàn.
Có mặt trên thị trường Việt Nam trên 13 năm, Mega – T đã mang lại vóc dáng thon gọn cho hàng ngàn anh chị em. Ngoài ra, Mega – T còn được cấp rất nhiều giải thưởng uy tín của Bộ Y Tế và các Hiệp hội Thương mại: Chứng nhận Sản phẩm Chất lượng An toàn vì sức khỏe cộng đồng năm 2005 của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế. Huy chương vàng chất lượng Việt, Chứng nhận là sản phẩm TOP TEN ngành hàng của Liên hiệp…
Các bạn hoàn toàn có thể yên tâm về hiệu quả và chất lượng sản phẩm
Chi tiết, xin quý khách vui lòng liên hệ: 043.5162.999


Xem chi tiết tại: megat, mega t, giảm cân mega t
Đọc tiếp…

Dinh dưỡng cho người gầy

Trong khi rất nhiều người vất vả cho việc giảm cần thì lại có không ít khổ sở với thân hình quá gầy quá mức, thỉnh thoảng lại còn bị những tiếng oan như sợ béo, sợ mập hay giữ eo nhưng thực ra họ cũng đã cố gắng để ăn uống rất nhiều nhưng vẫn rất khó để mập lên.
Sau đây là một vài món ăn thích hợp mà những bạn gái đang muốn tăng cân có thể tham khảo đấy!

Ngũ cốc cho bữa sáng:


Nếu bạn đang muốn tăng cân nhanh chóng, hãy chỉ ăn 10 – 20gr ngũ cốc trong bữa sáng
Nếu bạn đang muốn tăng cân nhanh chóng, hãy chỉ ăn 10 – 20gr ngũ cốc trong bữa sáng. Nếu bạn bỏ qua lời khuyên này, bạn sẽ phải mất cả quãng thời gian còn lại trong ngày để đốt cháy lượng calo trên đấy. Một cốc Smoothie ngũ cốc cho bữa sáng sẽ rất hiệu quả cho việc tăng cân.

Khoai tây:

riêng khoai tây nấu chín cung cấp hàm lượng vitamin C khá cao rất phù hợp với người muốn tăng cân
Người gầy nên tăng cường ăn nhiều các thức ăn có hàm lượng protein cao như các loại đậu hay sản phẩm giàu tinh bột như khoai tây, gạo… Đặc biệt, khoai tây chứa nhiều tinh bột, cellulose, giàu vitamin B1, B2, phốt pho, riêng khoai tây nấu chín cung cấp hàm lượng vitamin C khá cao rất phù hợp với người muốn tăng cân.

Thịt thỏ:

Thịt thỏ chứa hàm lượng chất đạm rất cao, hơn cả thịt bò, thịt lợn, ít mỡ và ít cholesterol hơn thịt lợn, thịt bò
Thịt thỏ chứa hàm lượng chất đạm rất cao, hơn cả thịt bò, thịt lợn, ít mỡ và ít cholesterol hơn thịt lợn, thịt bò…. Thịt thỏ chứa nhiều vitamin và các axit amin cần thiết cho cơ thể, do đó ăn thịt thỏ sẽ hấp thu được đầy đủ các chất dinh dưỡng, lại không bị lắng đọng các chất có hại, cho nên nó còn là một loại thức ăn có giá trị chống lão suy.

Sa lát trái bơ:

Không chỉ tốt cho tim, một bát sa lát trái bơ còn giúp bạn tăng cân nhanh chóng
Không chỉ tốt cho tim, một bát sa lát trái bơ còn giúp bạn tăng cân nhanh chóng. Một bát sa lát 261 gram chứa tới 360 calo cơ mà bạn.

Nước ép trái cây nguyên chất:


nước hoa quả nguyên chất còn chứa rất nhiều lượng calo bạn mong muốn
Ngoài việc cung cấp cho cơ thể một lượng vitamin và dưỡng chất cần thiết, nước hoa quả nguyên chất còn chứa rất nhiều lượng calo bạn mong muốn. 57 là lượng calo trong một chai nước hoa quả.

Bên cạnh chế độ ăn uống đủ chất bạn cũng nên tập luyện thường xuyên, sau mỗi giờ tập bạn sẽ thấy ăn ngon hơn và sức khỏe dẻo dai hơn đấy.

Chúc bạn thành công!
Đọc tiếp…

Những thực phẩm có thể làm sẩy thai

Những thực phẩm có thể làm sẩy thai Ngoài việc ăn uống lành mạnh, phụ nữ cần tránh một số loại thực phẩm nhất định làm ảnh hưởng sức khỏe thai nhi, thậm chí có thể dẫn đến sẩy thai.


Đồ biển

Tuy đồ biển chứa nhiều a-xít béo omega-3 có lợi cho sự phát triển của trẻ nhưng bạn cần tránh các loại thực phẩm chứa nhiều thủy ngân. Những đồ biển thường chứa thủy ngân như cá hồi, cua hoặc thịt cá mập… có thể gây hại cho não trẻ.

Thực phẩm ăn sống

Kiêng đồ sống trong thời kỳ mang thai là điều vô cùng quan trọng. Những thực phẩm này chứa nhiều vi khuẩn và virus, có thể đe dọa sự an toàn cho thai nhi và mẹ. Chuyên gia khuyên các bà bầu nên ăn thực phẩm nấu chín và đã được chọn lọc kỹ lưỡng, tránh đồ ăn chứa nhiều vi khuẩn hay có khả năng nhiễm virus.

Đồ uống không tiệt trùng

Các bà bầu nên tránh dùng các sản phẩm sữa, phô mai, sữa chua không nhãn mác, không nguồn gốc, chưa qua quá trình tiệt trùng.Thai phụcó thể ăn pho mát hoặc uống các loại sữa không béo nhưng nên tránh các loại phô mai không tiệt trùng như feta hoặc brie.


Trái cây, rau quả chưa rửa sạch

Nấu chín thức ăn là việc làm vô cùng quan trọng đối với các bà bầu. Ngoài việc không nên ăn thịt, cá sống, chưa chín tới, các bà mẹ tương lai đừng quên rửa trái cây, rau quả và các thực phẩm khác thật sạch trước khi ăn.

Cà phê, trà, rượu

Tránh sử dụng cà phê, trà và rượu trong suốt thai kỳ giúp phụ nữ ngăn ngừa các biến chứng trong thời gian sinh nở và tránh dị tật ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, bà bầu uống quá nhiều3 chất kích thích trên sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai.

Đọc tiếp…

Làm thế nào để tăng đủ cân trong thai kỳ?

Sức khoẻ và trọng lượng lúc đẻ của trẻ liên quan nhiều đến việc người mẹ tăng cân như thế nào trong thai kỳ. Trẻ phát triển nhanh trong tử cung, ước tính thai nhi đang phát triển sản sinh ra 100.000 tế bào não trong một phút. Từ tuần thứ 26 của thai kỳ trở đi, một thai nhi tăng khoảng 30g trọng lượng mỗi ngày. Vì thế trẻ cần rất nhiều năng lượng. Đó cũng là lý do thai kỳ cần phải có nhiều năng lượng kể cả những phụ nữ dư thừa cân nặng.


Nếu người mẹ không tăng đủ cân trong thai kỳ sẽ có nhiều nguy cơ sinh con nhẹ cân. Những trẻ này có nhiều nguy cơ bị những vấn đề về sức khoẻ và nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Vậy để có một đứa con khoẻ mạnh thì trong thai kỳ, người mẹ cần tăng bao nhiêu cân là đủ? Điều này còn phụ thuộc vào tình trạng của người mẹ, không có thai kỳ nào giống thai kỳ nào, cũng không có người phụ nữ nào giống nhau hoàn toàn.

Sự tăng cân trong thai kỳ bao gồm những yếu tố sau:
Trẻ: 3.200g-3.600g
Nhau thai: 500g-900g
Dịch ối: 900g
Sự phì đại tuyến vú: 500g
Tử cung: 900g
Thể tích máu được gia tăng: 1.400g
Mỡ cơ thể: 2.300g
Mô và dịch cơ thể tăng: 1.800g-3.200g
Do đó người mẹ nên tăng cân theo mức sau: Mẹ có cân nặng bình thường trước khi mang thai nên tăng 11,3-16kg. Nếu người mẹ thiếu cân trước khi mang thai nên tăng 12,7-18,3kg. Trường hợp mẹ dư thừa cân trước khi mang thai, nên tăng 7-11,3kg. Nếu mẹ có song thai thì nên tăng 16-20,5kg

Trong ba tháng đầu của thai kỳ, người mẹ nên tăng 1kg, ba tháng giữa tăng 5kg, ba tháng cuối tăng 6kg. Có nhiều bà mẹ ít tăng cân hoặc không tăng cân trong 3 tháng đầu thai kỳ vị bị nghén nhưng phần lớn vẫn tăng được 0,9-1,8kg.

Trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ nên tăng trung bình 0,3-0,5kg/tuần. Khoảng tuần thứ 13 của thai kỳ, hàm lượng Estrogen bắt đầu tăng. Chất này tác động như một chất kích thích sự thèm ăn làm cho nhiều bà mẹ có cảm giác thèm một số loại thức ăn như đất, vữa tường, quả chua...

Các loại thức ăn này sẽ không tốt nếu chúng thay thế các thực phẩm giàu dinh dưỡng hoặc góp phần làm tăng cân quá mức nên phải chú ý chế độ ăn cho bà mẹ có thai. Trong thai kỳ đủ tháng, người mẹ cần tiêu thụ thêm 80.000Kcalo tức là trong 280 ngày thì bình quân mỗi ngày cần thêm 285Kcalo. Vậy phải sử dụng các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng chứ không nên chỉ ăn quà vặt hoặc nước giải khát không có năng lượng.

Theo bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam (1977): khi phụ nữ có thai vào 6 tháng cuối, nhu cầu hàng ngày cần tăng thêm 350Kcalo, 15gProtein, còn Canxi phải có 1000mg, sắt có 30mg trong khẩu phần hàng ngày cộng thêm tăng cường vitamin nhóm B,C.

Đọc tiếp…

Làm thế nào để bảo vệ nguồn sữa mẹ?

Sữa mẹ là nguồn cung cấp dinh dưỡng vô cùng quý giá đối với trẻ. Việc duy trì và tăng cường về số lượng cũng như chất lượng sữa mẹ là rất cần thiết.  Sau đây là những lời khuyên cho người mẹ để bảo vệ nguồn sữa của mình trong thời kỳ nuôi con nhỏ:


a. Muốn có sữa cho con bú, ngay trong thời kỳ có thai ngýời mẹ cần được ăn uống đủ chất, có chế độ nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái, do đó tăng cân tốt và có nhiều sữa sau khi sinh.

b. Khi nuôi con bú, trước hết người mẹ cần được ăn đủ, uống đủ, ngủ đẫy giấc. Khẩu phần ãn cần cao hơn mức bình thường. Hằng ngày ăn thêm vài bát cơm, một ít thịt, cá, hoặc trứng, một ít rau đậu. Nên ăn thêm quả chín. Các món ăn cổ truyền như cháo chân giò gạo nếp, ý dĩ có tác dụng kích thích bài tiết sữa. Nên hạn chế các gia vị như ớt, hành, tỏi vì dễ làm cho sữa có mùi khó chịu, trẻ dễ bỏ bú.

c. Khi cho con bú, nên hạn chế dùng thuốc vì một số thuốc có thể qua sữa gây ngộ độc cho trẻ và làm giảm tiết sữa.

d. Người mẹ cho con bú nên uống nhiều nước nhất là cháo, nước quả, sữa... (mỗi ngày khoảng một lít rưỡi ðến hai lít).

e. Ðể sữa được tiết ra một cách thuận lợi, tinh thần người mẹ phải thoải mái, tự tin, tránh những cãng thẳng, buồn phiền, lo âu, mất ngủ. Chế độ lao động, nghỉ ngơi sau khi sinh đẻ có ảnh hưởng đến bài tiết sữa.

f. Ðiều quan trọng để tạo nhiều sữa là cần cho con bú thường xuyên, đúng cách. Trẻ ngậm bắt vú đúng sẽ bú có hiệu quả và tránh làm người mẹ đau rát vú.
Đọc tiếp…

Vai trò của acid folic trong việc phòng ngừa dị tật thai nhi

Acid folic (hay còn gọi là folat) có chức năng: Cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào của người, động vật, thực vật và vi khuẩn và cần cho sự hình thành của tế bào máu.

Nhu cầu acid folic:
Nhu cầu trung bình 3mcg/kg trọng lượng cơ thể đáp ứng được cho nhu cầu người trưởng thành, tương đương 180-200mcg/ngày. Nhu cầu tăng lên trong khi mang thai cần 400mcg/ngày để đáp ứng: Sự gia tăng của quá trình phân chia tế bào cũng như tăng kích thước tử cung. Cần cho tổng hợp nhân tế bào Acid Deoxyribo Nucleic (ADN). Acid Ribo Nucleic (ARN), và protein; Hình thành nhau thai; Số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo khối lượng máu tăng; Tăng trưởng của bào thai; và do tăng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai.


Hậu quả của thiếu hụt acid folic với phụ nữ mang thai:
Thiếu máu hồng cầu khổng lồ
Nguy cơ sẩy thai cao
Sinh non, sinh con nhẹ cân
Có mối quan hệ giữa việc thiếu acid folic với khuyết tật của ống thần kinh của thai nhi (nứt đốt sống và não úng thủy).

Sau đây là những điều mà chị em phụ nữ dự định mang thai và mang thai cần quan tâm:
Trong y học định nghĩa nứt đốt sống và khuyết tật trong đó một bộ phận của một hay nhiều đốt sống không phát triển trọn vẹn, làm cho một đoạn tủy sống bị lộ ra. Nứt đốt sống có thể xảy ra ở bất cứ đốt sống nào nhưng thông thường nhất là ở dưới thắt lưng và mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào số lượng mô thần kinh bị phô bày. 

Triệu chứng của tật nứt đốt sống có thể là liệt 2 chân, tiêu tiểu không kiểm soát được hay não úng thủy (não có nước). Sự không hoàn thiện của ống thần kinh (ống thần kinh đóng không kín) xảy ra vào ngày thứ 28 sau thụ thai. Do vậy phải bổ sung acid folic trước khi thụ thai thì mới có hiệu quả sự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi. 

Những nghiên cứu lớn trên thế giới trong vòng 30 năm trở lại đây ở Anh, Hungari, Trung Quốc…chứng minh rằng nồng độ đủ cao của acid folic trong máu người mẹ rất cần thiết cho việc đóng ống thần kinh bình thường. Những bà mẹ có nồng độ acid folic trong máu thấp có nhiều nguy cơ sinh con bị nứt đốt sống.

Lúc nào cần đảm bảo đủ acid folic:
Khi phát hiện có thai mới bắt đầu đảm bảo đủ khẩu phần ăn có 400mcg acid folic thì đã chậm mà nhất thiết nồng độ acid folic phải đảm bảo đủ cao vào thời điểm mang thai. Vậy điều quan trọng là phải bổ sung đủ acid folic trước khi thụ thai. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai dự định mang thai phải bắt đầu bổ sung đủ acid folic 3 tháng trước thời điểm dự định có thai. Nhất thiết phải đảm bảo đủ khẩu phần hàng ngày có 400cmg acid folic.

Cơ quan y tế của một số nước như Mỹ, Anh, Canada đã khuyến nghị: Cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng có đủ 400cmg acid folic/ngày cho tất cả phụ nữ độ tuổi sinh đẻ bằng các thực phẩm có tăng cường acid folic.

Những phụ nữ nào dễ bị ảnh hưởng của thiếu acid folic?
Tất cả các bà mẹ đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, não úng thủy bất kể họ bao nhiêu tuổi, họ có con lần đầu hay đã có nhiều con khỏe mạnh, ngay cả khi sức khỏe của chính bà mẹ rất tốt. Tuy vậy có một số bà mẹ bắt buộc phải theo chế độ bổ sung acid folic chặt chẽ như sau:

Tình trạng dinh dưỡng kém, sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đổi, nghèo vi chất dinh dưỡng.
Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi. lo lắng, hoặc chán ăn.
Mới sẩy thai, hay thai chết lưu.
Làm việc vất vả hoặc bị căng thẳng thần kinh trầm trọng.
Phụ nữ đẻ dày, có nhiều con, có thể để lại hậu quả tình trạng dinh dưỡng kém, do vậy rất cần đủ acid folic trước khi thụ thai.
Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh.
Nghiện rượu hay thuốc lá.
Làm thế nào để đảm bảo đủ lượng acid folic? Có các giải pháp sau:
Chế độ ăn có các thực phẩm giàu folat: Gan động vật (bò, gà, lợn), Rau có lá màu xanh thẫm, hoa lơ xanh…

Bổ sung bằng dạng thuốc uống với liều 400mcg acid folic/ngày trước khi mang thai ít nhất là 1-3 tháng, và uống acid folic kèm với sắt từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh một tháng. Nên lựa chọn sắt có chứa 60mg sắt nguyên tố, acid folic: 400cmg.

Chọn lựa các thực phẩm có bổ sung acid folic: Nên lựa chọn các thực phẩm dùng cho phụ nữ dự định mang thai, mang thai và cho con bú có tăng cường acid folic để đảm bảo cung cấp đủ 400cmg/ngày, kết hợp với các vitamin và khoáng chất khác để sinh ra những đứa con khỏe mạnh thông minh.
Đọc tiếp…

Vai trò của Sắt và Canxi trong thời kỳ mang thai

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường. Hãy chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (5 -6 bữa) để tránh hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén.

Cẩn thận khi lựa chọn sữa cho bé
Vì sao trẻ 3 tuổi vẫn chưa liền thóp
Theo bác sĩ chuyên khoa I Phan Thị Hiền Thu, quá trình mang thai là thời gian hạnh phúc nhưng cũng nhiều thử thách của người phụ nữ. Thai phụ có “đặc quyền” được đòi hỏi bất cứ đồ ăn, thức uống gì và vào bất cứ thời điểm nào (kể cả nửa đêm) mà người nhà vẫn phải chiều vì “chứng ăn dở” của bà bầu.

Ảnh minh họa: Socola.

Tuy nhiên, lời khuyên cho chị em là nên tạm hoãn những sở thích ăn uống nếu những thực phẩm đưa vào cơ thể không tốt cho bé hoặc cho chính mẹ, vì ăn vào ngon miệng một người mà tới hai người “khổ”. Có trường hợp mẹ không muốn ăn nhưng cũng phải cố ăn để cho bé yêu trong bụng có đầy đủ dưỡng chất. Đôi khi các bà mẹ cũng biết những gì là tốt, cần cho con nhưng vì ốm nghén hay “nuông chiều” bản thân trong giai đoạn mang thai vất vả nên chỉ ăn những gì mình thích.

Bên cạnh đó, thai phụ nên cân nhắc và lựa chọn thực phẩm xanh, sạch, tốt cho bé cũng như cho mẹ cùng quá trình chuyển dạ. Một chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai sẽ là món quà tốt nhất cho bé con sắp chào đời.

3 tháng đầu thai kỳ thường là giai đoạn khá khó khăn với những phụ nữ lần đầu mang thai vì có thể bị nghén, ăn không được, ói… Trong khi đó dinh dưỡng hấp thụ vào cơ thể bé chưa nhiều. Trong giai đoạn này, khi ăn uống mẹ chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường. Hãy chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (5-6 bữa) để tránh hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén. Có thể bổ sung thêm thuốc bổ (sắt, acid folic, B12)

Trong 3 tháng đầu, thai phụ chỉ cần tăng 0,9 kg tới 2,3 kg. Riêng các mẹ đã béo phì thì không nên để tăng cân. Đây là giai đoạn cơ thể mẹ sẽ có những biến đổi sinh lý để thích nghi, đồng thời là thời gian quan trọng cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé. Vì vậy dù mẹ kém ăn nhưng cũng phải chú ý tăng thêm lượng chất đạm, nhất là những protein chất lượng cao dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: trứng, sữa các loại, các loại thịt gia cầm, cá và đậu…

Thai phụ cần lưu ý ăn đủ bữa trong ngày: 3 bữa chính + 3 bữa phụ.
Sau 3 tháng đầu thai kỳ người mẹ mới hết buồn nôn, ăn ngon miệng, thèm ăn vặt. Đây là giai đoạn mẹ dễ dàng tăng tốc để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao hơn. Vì thế cơ thể mẹ cần thêm năng lượng, song không phải chỉ ăn nhiều hơn về số lượng, mà nên chú trọng những chất dinh dưỡng cần thiết như:

- Chất đạm (protein): Có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu đỗ… giúp phát triển các tế bào mô của thai (bao gồm cả tế bào não), giúp cho tuyến vú và mô tử cung của mẹ phát triển suốt thai kỳ, đồng thời tăng thể tích tuần hoàn của mẹ. Thai phụ cần bổ sung thêm 10-18g protein mỗi ngày (tương đương 50-100 gr thịt cá tùy loại, 100-180 gr đậu hũ, hay 1-2 ly sữa mỗi ngày).

- Chất sắt: Có nhiều trong thịt, gan, tim, cật, rau xanh và các loại hạt… giúp tăng thể tích máu và phòng ngừa thiếu máu. Nếu thai phụ thiếu máu sẽ làm giảm lực co bóp của tử cung khi chuyển dạ, giảm lượng sắt dự trữ của em bé trong 6 tháng đầu đời. Vì thế thai phụ cần bổ sung thêm ít nhất 15gr sắt mỗi ngày.

- Canxi: Có nhiều trong sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh, đậu đỗ… giúp hoạt động hệ thần kinh và đông máu bình thường cho mẹ, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé. Nếu thiếu canxi mẹ dễ bị vọp bẻ, đau nhức xương, bé có thể bị còi xương ngay trong bụng mẹ.
- Acid folic (vitamin B9): Giúp giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh cho trẻ, tật nứt đốt sống trong bào thai. Vitamin này có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh, cải bó xôi, ngũ cốc hoặc một số loại hạt như vừng, lạc… Ngoài ra acid folic còn có trong thịt gia cầm và nội tạng động vật như gan, tim...

- Vitamin D: Có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời. Ngay từ trong bào thai, bé cần phát triển hệ xương và hình thành mầm răng sữa, vì vậy ngoài việc bổ sung thực phẩm nhiều canxi, người mẹ phải kết hợp phơi nắng để tăng cường vitamin D giúp hấp thu canxi tối ưu. Thai phụ cần phơi nắng khoảng 15 phút mỗi ngày (tránh ánh nắng quá gay gắt), nên để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên đeo găng tay, đi vớ và cũng không nên phơi nắng sau cửa kính.

- Vitamin C: Giúp hỗ trợ phát triển xương sụn, cơ và mạch máu cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc. Nó cũng là một chất chống oxy hóa giúp người mẹ tăng cường sức đề kháng. Vitamin C có trong các loại rau xanh, trái cây…

 Hàm lượng sắt trong 100g thức ăn ăn được ( mg/100g ):

Thực phẩm (100g )
Sắt ( mg )
Thực phẩm 100g
Sắt ( mg )
Gan lợn
12,0
Cùi dừa già
30,0
Tim lợn
5,9
Đậu tương
11,0
Cua đồng
4,7
Vừng
10,0
Tôm khô
4,6
Rau đay
7,7
Cua bể
3,8
Rau dền trắng
6,1
Bầu dục lợn
8,0
Đậu đũa ( hạt )
6,5
Mề gà
6,6
Măng khô
5,0


 Hàm lượng Canxi (mg) trong 100g thức ăn ăn được

Thực phẩm ( 100g )
Canxi ( mg )
Thực phẩm (100 mg )
Canxi ( mg )
Rau dền cơm
341
Sữa bột tách béo
1,400
Rau cần ta
310
Tôm đồng
1.120
Rau đay
182
Pho mát
760
Rau ngót
169
Lòng đỏ trứng vịt
146
Rau muống
100
Cua bể
141

Đọc tiếp…